48898
  

CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MTV YẾN SÀO KHÁNH HÒA

Xếp hạng VNR500: 193(B1/2016)
Mã số thuế: 4200338918
Mã chứng khoán: Chưa niêm yết
Trụ sở chính: 248 Thống Nhất - Phường Phương Sơn - TP. Nha Trang - Tỉnh Khánh Hòa
Tel: 058-3822472
Fax: 058-3829267
E-mail: yensaokh@yensaokhanhhoa.com.vn
Website: www.yensaokhanhhoa.com.vn
Tên ngành cấp 2: Sản xuất, chế biến thực phẩm
Sở hữu vốn: Vốn nhà nước > 50%
Năm thành lập: 09/11/1990

Giới thiệu


Tiền thân của Công ty là Công ty Yến Sào Khánh Hòa, một doanh nghiệp Nhà nước được thành lập theo Quyết định số 78/QĐ-UB ngày 16/01/1993 của UBND tỉnh Khánh Hòa. Đến ngày 26/10/2009 Công ty Yến sào Khánh Hòa chuyển đổi thành Công ty TNHH Nhà nước MTV Yến sào Khánh Hòa.@ Công ty TNHH nhà nước MTV Yến sào Khánh Hòa hiện được đánh giá là đơn vị đầu ngành của cả nước về quản lý nguồn lợi yến sào. Trong quá trình phát triển, Công ty không ngừng đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ nhằm đưa giá trị bổ dưỡng cao cấp của yến sào đến với cộng đồng, góp phần phục vụ sức khỏe cộng đồng và nâng cao giá trị thương phẩm của yến sào, hướng đến chiếm lĩnh thị trường trong nước và quốc tế. Hiện nay, công ty đã sản xuất hơn 40 dòng sản phẩm có giá trị bổ dưỡng cao cấp với hệ thống thị trường hơn 900 nhà phân phối, đại lý trong nước, 30 nhà phân phối ở nước ngoài, đăng ký nhãn hiệu độc quyền tại 42 quốc gia trên thế giới. Sau hơn 20 năm phát triển, từ quản lý 8 đảo yến ban đầu, đến nay Công ty Yến sào đang quản lý trên 32 đảo yến với hơn 169 hang yến mới lớn nhỏ thuộc vùng biển Khánh Hòa và 26 đơn vị trực thuộc. Về doanh thu, Công ty Yến sào Khánh Hòa luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch chỉ tiêu sản lượng yến được Nhà nước giao. Năm 2014, tổng doanh thu toàn công ty đạt 3.903 tỷ đồng, tăng hơn 39 lần so với năm 2015; nộp ngân sách 382 tỷ đồng, tăng hơn 10 lần so với năm 2015. Cùng với hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty Yến sào Khánh Hòa còn luôn chú trọng đến công tác an ninh quốc phòng, quân sự tại công ty; chú trọng công tác huấn luyện, bồi dưỡng và nâng cao năng lực hoạt động quản lý, bảo vệ.



Tin tức doanh nghiệp

Vị của Tết Trung thu

Giá trị dinh dưỡng của yến đảo thiên nhiên

Công ty Yến sào Khánh Hòa: Trao thưởng 3 cuộc thi lớn

Doanh nhân Lê Hữu Hoàng: Đề cao giá trị văn hóa doanh nghiệp

Công ty Yến sào Khánh Hòa: Có niềm tin Yến sào Khánh Hòa trở thành sản phẩm quốc gia

Công ty Yến sào Khánh Hòa trao thưởng 3 cuộc thi lớn

Ban lãnh đạo

Họ và tên Chức vụ
Lê Hữu Hoàng Chủ tịch HĐTV-Tổng GĐ
Hồ Kim Phong Giám đốc kinh doanh
Huỳnh Bá Giám đốc nhân sự
Nguyễn Thị Bích Hường Kế toán trưởng

Hồ sơ tổng giám đốc

Họ và tên Lê Hữu Hoàng
Năm sinh 01/08/1967
Nguyên quán

Học vị: Thạc sỹ Kinh tế

Doanh nhân Lê Hữu Hoàng sinh ngày 01.08.1967, tại huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Ông được kếp nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 10/12/1996; và trở thành Đảng viên chính thức từ ngày 10/12/1997.
Doanh nhân Lê Hữu Hoàng đã trải qua các quá trình công tác như sau:
- Năm 1990: Trưởng phòng Kế hoạch Tài vụ Công ty Yến sào Khánh Hòa.
- Năm 2001: Phó giám đốc Công ty Yến sào Khánh Hòa.
- Năm 2002: Phó bí thư Đảng ủy Công ty Yến sào Khánh Hòa, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Khối Doanh nghiệp tỉnh Khánh Hòa, Giám đốc Công ty Yến sào Khánh Hòa.
- Năm 2005: Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Du lịch Thương mại Nha Trang.
- Năm 2007: Chủ tịch Hội Doanh nghiệp trẻ Khánh Hòa.
- Từ năm 2007 đến nay: Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty Yến sào Khánh Hòa.
Các đề tài nghiên cứu: 
Trong quá trình hoạt động, công tác của mình, Doanh nhân Lê Hữu Hoàng đã có các sáng kiến, đề tài nghiên cứu sau:
1. Sáng kiến cải tiến nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên yến sào đạt hiệu quả cao:
Xác định công tác quản lý, bảo vệ sản phẩm, khai thác hiệu quả, giám sát thu hoạch, đảm bảo phát triển bền vững nguồn lợi yến sào là nhiệm vụ hàng đầu, chủ yếu của Công ty, Doanh nhân Lê Hữu Hoàng đã chỉ đạo tập trung kiện toàn bộ máy tổ chức lực lượng bảo vệ đảo, theo dõi chặt chẽ diễn biến của thời tiết, tình hình phát triển của tổ yến để triển khai kế hoạch khai thác hợp lý, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho sản phẩm, đảm bảo an toàn về người và tài sản Công ty, đảm bảo khai thác hàng năm đạt hiệu quả cao.
Trong các năm trước đây (từ năm 2000 trở về trước), tình trạng xâm nhập hang đảo trái phép của ngư dân để mót yến sào, ngư dân sử dụng chất nổ để đánh bắt thủy sản, gây tác hại đến môi trường sinh thái tại các đảo do Công ty quản lý. Để  giải quyết triệt để tình trạng trên ông đã chỉ đạo các phòng, ban phối hợp và liên hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương phường Vĩnh Nguyên, Bộ đội Biên Phòng, Công an Tỉnh để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ngư dân địa phương thực hiện nghiêm Nghị định 48/CP của Chính Phủ về bảo vệ động thực vật hoang dã quý hiếm và Chỉ thị 18/CT của UBND Tỉnh về quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên yến sào và chống xâm nhập hang đảo trái phép, đồng thời thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo tại địa phương. Từ đó, hiện tượng mót yến và xâm nhập hang đảo trái phép không còn, Công ty cũng phối hợp với các cơ quan ban ngành và Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản ngăn chặn hữu hiệu việc đánh bắt trái phép thủy sản bằng chất nổ trong khu vực, góp phần bảo vệ, gìn giữ và đảm bảo môi trường sinh thái cho loài chim yến.
Phải nói rằng từ thành công trong công tác quản lý tài nguyên yến sào trong các năm qua, chúng ông đã rút ra bài học kinh nghiệm rất to lớn. Đó là sự kết hợp chặt chẽ  giữa Công ty, lực lượng nội chính, chính quyền địa phương và quần chúng nhân dân. Đặc biệt sự tuyên truyền, giáo dục sâu rộng quần chúng nhân dân có ý nghĩa rất to lớn, quyết định thắng lợi công tác phòng chống xâm nhập hang đảo trái phép tồn tại từ nhiều năm trước đây.
Kết quả sản lượng thu hoạch yến sào qua các năm tăng lên rất rõ rệt: Năm 2002 đạt được 2.145 kg thành phẩm tăng hơn năm 2001 là 244 kg, tương đương tăng 12,84%; Năm 2003 đạt 103% kế hoạch Tỉnh giao; Năm 2004 đạt 106% kế hoạch Tỉnh giao. Năm 2005 đạt 109 %  kế hoạch Tỉnh giao; Năm 2006 đạt 115 % kế hoạch Tỉnh giao, năm 2007 đạt 112% kế hoạch tỉnh giao.
2. Sáng kiến cải tạo hệ thống kết cấu và vật liệu Mái che lòng chảo hang Trống – đảo A1 (hòn Ngoại):
Công ty đã không ngừng đầu tư, cải tiến kỹ thuật, tiến hành các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ môi trường sinh thái hang yến và phát triển nguồn lợi bền vững tài nguyên yến sào.
Hang Trống thuộc đảo yến A1 – hòn Ngoại, nằm về hướng Đông Nam thành phố Nha Trang, cách Cảng Nha Trang khoảng 27 km theo đường chim bay. Hang Trống chiếm khoảng 40% sản lượng thu hoạch toàn Công ty trong một năm. Chiều dài hang yến ước khoảng 75m và chiều cao khoảng 40m, hang thông thoáng và tiếp giáp theo hai hướng Bắc Nam, phần đáy hang là đá và cát biển, khi nước thủy triều lên thì phần đáy hang ngập trong nước biển. Tại đỉnh hang có một khoảng không rất lớn thông từ đỉnh xuống phần đáy hang (thường gọi vị trí đó là lòng chảo hang Trống), với diện tích  60m2 tiếp giáp với các vách đá trong hang nơi chim yến làm tổ. Khu vực này với khoảng không tại đỉnh hang quá lớn, các nhân tố tác động: nước, gió, ánh sáng mạnh gây điều kiện không tốt cho chim yến làm tổ. Gặp lúc thời tiết xấu, gió thổi mạnh thường ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ làm tổ của chim, chim chết rất nhiều, vì vậy ảnh hưởng đến sản lượng của Công ty. Ngoài ra, những cơn mưa giông thường trút những lượng mưa lớn chảy dồn vào khoảng không và làm ướt toàn bộ các vách đá có chim yến làm tổ, làm tổ bị rơi khỏi vách hang. Do vậy chim yến không làm tổ và sinh sống tại vách dọc lòng chảo hang Trống làm thiệt hại đến tình hình sản lượng của đảo A1 và của Công ty.
Trước đây Công ty dùng giăng cội đỡ mái tole chắn trên lòng chảo không chắc chắn, không giải quyết được nước mưa xuyên qua vách hang. Từ thực tế trên, ông đã đưa ra giải pháp làm mái che lòng chảo hang Trống với kết cấu cơ bản như sau: Mái che làm bằng tole nhựa, trên mái lợp lưới inox và phủ trên cùng là vật liệu nhựa composite dày 3 ly; Khung chịu lực mái che là khung sườn inox, đi dọc chiều dài mái che, liên kết khung vì kèo vào vách đá là liên kết tắc kê inox, chôn vào các lỗ đá đục sẵn. Với kết cấu và vật liệu như trên, ưu điểm là phù hợp với nhiệt độ và môi trường, không làm co ngót vật liệu tạo ra vết nứt nên nước mưa không thể thấm xuyên qua được. Đặc biệt kết cấu vững chắc, sử dụng bền vững phù hợp với môi trường sinh thái chim yến làm tổ.
Kinh phí thực hiện công trình chỉ 93,5 triệu, mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn: số lượng chim về làm tổ dưới mái che tăng lên 1.100 tổ (năm 2003 so với năm 2002), sản lượng và chất lượng của tổ yến tăng (tổ to và trắng hơn). Đặc biệt chim yến về làm tổ ngay trên dàn inox và dưới mái che bằng tole, mở ra một triển vọng mới về khả năng mở rộng bề mặt hang Trống và khả năng môi trường về nhân tạo. Giải pháp kỹ thuật này có giá trị rất to lớn về sản lượng và chất lượng sản phẩm, có ý nghĩa thực tiễn trong bảo vệ phát triển tài nguyên yến sào.
Đề tài sáng kiến cải tạo hệ thống kết cấu và vật liệu Mái che lòng chảo hang Trống – đảo A1 (hòn Ngoại) đạt giải 3 tại Hội thi Khoa học Kỹ thuật năm 2006-2007 tỉnh Khánh Hòa.
3. Sáng kiến di đàn chim yến tại Hòn Rơm:
Để quản lý và phát triển bền vững tài nguyên yến sào trong tương lai, Doanh nhân Lê Hữu Hoàng đã tổ chức nghiên cứu vấn đề di đàn chim Yến. Xuất phát từ thực tế sau mỗi kỳ thu hoạch vụ II hàng năm, tại các hang đều có một số lượng lớn chim con, nhất là ở các hang có sản lượng lớn. Tại những hang này, trên vách hang có mật độ chim yến làm tổ quá dày, có nơi, trên vách đá không còn diện tích cho chim làm tổ. Do đó, vấn đề di dời đàn chim yến từ những hang có mật độ dày đến những hang mới hoặc những vách hang còn có diện tích cho chim làm tổ là một thử nghiệm rất mới, nếu thành công thì hiệu quả rất lớn. Vì khi số lượng chim yến tập trung nhiều tại các đảo yến thuộc hướng Cam Ranh – hướng Nam thì nguồn thức ăn của chim yến sẽ không đủ do đó chim yến phải bay xa hơn để tìm kiếm thức ăn, vì quá xa cho nên chim yến sẽ kiệt sức. Ngược lại đối với các đảo yến ở hướng Ninh Hòa – hướng Bắc, lượng yến tập trung tại đây ít mà nguồn thức ăn lại dồi dào (qua khảo sát thực tế về nguồn thức ăn cho chim yến tại Huyện Ninh Hoà và Thị Xã Cam Ranh). Do đó nếu áp dụng theo đề tài di đàn này thì một ngày không xa lượng chim ở hai nơi sẽ tương đối cân bằng và nguồn thức ăn cho chim yến đầy đủ, đàn chim yến ngày một phát triển hơn, từ đó số lượng và chất lượng tổ yến sẽ tăng tạo ra hiệu quả kinh tế rất lớn.  
Bước đầu, sau vụ II năm 2003 Công ty quyết định thí điểm một mô hình nhỏ ở hang yến hòn Rơm – đảo A6 . Về địa hình, Hang Hòn Rơm có mặt chính hang quay về hướng Bắc, cách Cảng Nha Trang theo 14 km theo hướng Đông, chiều cao đỉnh hang ước khoảng 12m, bề rộng khoảng 8m, phần đáy hang một nữa bên ngoài ngập trong nước biển, một nữa bên trong là sỏi tròn. Hang Hòn Rơm cấu trúc theo dạng hình vòm, phần bộng giữa hang rất lớn, bề mặt vách đá của hang nhám rất thuận tiện cho chim yến đeo bám làm tổ, qua khảo sát thấy nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, hang mát do một nữa phần đáy hang ngập trong nước. Từ trước đến nay trong lịch sử ngành yến sào Khánh Hòa không có yến tại hang hòn Rơm và không có danh mục hang yến hòn Rơm. Ông và nhóm cộng sự tiến hành chuyển số chim con từ hang yến có mật độ dày chuyển về hang Hòn Rơm, rồi thả toàn bộ chúng vào trong hang, dùng loại tổ yến mà chim yến nhặt rể của cây cừa làm thành tổ, dùng keo dán vào các vị trí vách hang để chim con đeo bám và nằm vào  tổ. Thực tế, số lượng chim chuyển từ Hang Trống (hòn Ngoại) đem về hang Hòm Rơm thả là 100 con và số lượng tổ yến cừa được gắn lên vách đá là 150 tổ. Sau 22 tháng (từ tháng 8/2003 đến tháng 5/2005), kết quả thu được như sau: Qua kiểm tra đánh giá hang, đàn chim còn lại trong hang đếm được là 60 con. Và số lượng tổ yến phát triển tại hang Hòn Rơm là 15 tổ .
Thành công bước đầu ở mô hình thí điểm việc di đàn tại hang yến mới phát hiện hòn Rơm đã mở ra một hướng mới trong ngành quản lý khai thác yến sào, trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học ứng dụng vào thực tiễn, tăng nguồn thu nộp ngân sách cho Tỉnh nhà. Trước mắt, hang yến hòn Rơm đã được đưa vào quản lý bảo vệ chặt chẽ và tiếp tục thực hiện các giải pháp khác cải tạo hang thông thoáng: khoan lỗ trên đỉnh hang tạo độ thông thoáng, đảm bảo độ ẩm, nhiệt độ phù hợp môi trường sinh thái.
Trong năm 2006, Doanh nhân Lê Hữu Hoàng cùng các cộng sự đã thành công trong việc di dời chim yến sang các hang mới: Hang Gốm, Hang Đôi và Hang Sào cao. Phát triển thêm 4 đảo yến tại huyện Vạn Ninh.
4. Sáng kiến tạo sản phẩm yến sào chế biến phục vụ nhân dân:
Trước thực tế trong nhiều năm gần đây, người tiêu dùng nội địa đã nghe và biết đến giá trị bổ dưỡng của yến sào nhưng hầu như không thể mua được để dùng và không biết phương pháp chế biến để sử dụng đúng qui cách, ông đã cùng với nhóm cộng sự có sáng kiến cho ra đời sản phẩm yến sào tinh chế nguyên chất với độ an toàn cao cho người sử dụng, nhằm tạo điều kiện cho người tiêu dùng nội địa có điều kiện tiếp xúc với loại đặc sản quí hiếm mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Khánh Hòa. Sản phẩm đã được kiểm tra và được Sở Y tế Tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
Với 2 dạng bao gói là: 3g cho một người/ lần và 5g cho 2 người/ lần sử dụng, 50g cho du khách làm quà kỷ niệm, đi kèm với một lượng đường phèn tinh khiết tương ứng với trọng lượng yến sào trong hộp, nội dung hướng dẫn sử dụng được ghi rõ ràng, cụ thể và đúng cách pha chế truyền thống, sản phẩm mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng. Sản phẩm ra đời đã phục vụ thiết thực cho nhu cầu bồi dưỡng sức khoẻ, đáp ứng được sự mong đợi của người tiêu dùng, nhất là trên thị trường hiện nay xuất hiện rất nhiều những mặt hàng yến sào giả tạo, kém chất lượng, được chế biến tinh xảo để đánh lừa người tiêu dùng, gây nguy hại cho sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến thương hiệu yến sào Khánh Hòa.
Bên cạnh đó, nhóm đề tài cũng đã tạo ra hình thức sản phẩm yến nguyên chất 3 tổ với trọng lượng 20 g, bao bì mẫu mã đẹp. Đây là món quà lưu niệm đã được khách du lịch trong nước và các đoàn khách quốc tế ưa chuộng và tiêu thụ mạnh trong thời gian qua. Từ khi bắt đầu sản xuất sản phẩm yến sào tinh chế nguyên chất vào tháng 7/2004 đến nay (tháng 5/2005), hiệu quả kinh doanh đạt được rất đáng phấn khởi: Sản lượng tiêu thụ là 19.874 hộp sản phẩm các loại đạt doanh thu 4,3 tỷ đồng với lợi nhuận 978 triệu đồng.
Trong thời gian qua, mặt hàng yến sào được chế biến nguyên chất của Công ty luôn được người tiêu dùng trong nước tín nhiệm và tin cậy về chất lượng và mẫu mã.
5. Sáng kiến trong ý tưởng xây dựng thương hiệu nước yến sào Khánh Hòa Sanest:
Thực hiện chủ trương của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc mở rộng ngành nghề kinh doanh và đa dạng hóa sản phẩm, trong những năm qua Công ty đã không ngừng phát triển, đầu tư công nghệ thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, luôn chú trọng đến uy tín chất lượng, từng bước tạo dựng thị trường tiêu thụ tốt trong nước và thế giới.
Từ thế mạnh là nhà khai thác trực tiếp nguồn đặc sản yến sào, Ban Giám đốc Công ty đã mạnh dạn đầu tư xây dựng nhà máy mới – Nhà máy Nước giải khát cao cấp yến sào - sản xuất nước yến sào cao cấp Sanest đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của người tiêu dùng.
Bắt nguồn từ ý tưởng lựa chọn một thương hiệu riêng biệt trong bối cảnh trên thị trường có đến hơn 20 loại nước yến với hình thức và đặc điểm gần như nhau rất khó phân biệt, Doanh nhân Lê Hữu Hoàng đã cùng các đồng sự nghiên cứu, bàn bạc, lựa chọn và quyết định sử dụng thương hiệu Sanest gắn liền với dòng sản phẩm nước yến sào cao cấp do chính Công ty sản xuất. Sanest được viết tắt từ các từ Salangane’s nest, nghĩa là yến sào – tổ của chim yến, có một ý nghĩa đặc thù rất sâu sắc, mang đậm bản sắc ngành nghề và có tính phân biệt cao.  Sự gắn kết giữa Sanest và thương hiệu yến sào Khánh Hòa tạo cho sản phẩm nước yến Sanest có tính độc lập, dễ dàng cho người tiêu dùng nhận biết sản phẩm trên thị trường, xây dựng thương hiệu Sanest có hệ thống đối thoại, nhận diện chuyên nghiệp và chuẩn mực.
Ý tưởng sáng tạo độc đáo nhất là đưa hình ảnh thật của cảnh đảo yến và cảnh khai thác yến sào vào tất cả bao bì các lọai sản phẩm chế biến từ yến sào của Công ty, phối hợp giữa yếu tố thẩm mỹ, nghệ thuật và nhất là sử dụng tư liệu thật là thế mạnh của nhà sản xuất đã hội tụ được hình ảnh của thương hiệu và khả năng bán hàng. Điều này mang lại hiệu quả rất lớn, đó là vừa khẳng định được xuất xứ, chất lượng của nước yến sào cao cấp Sanest, do nhà khai thác chuyên nghiệp trực tiếp sản xuất sản phẩm, vừa mang tính thẩm mỹ cao. Cảnh khai thác yến sào chính là hình ảnh thật của 02 công nhân kỹ thuật của Công ty đang tập trung hăng say thực hiện công việc khai thác một cách chuyên nghiệp, bộc lộ lên được giá trị của sản phẩm nước yến sào cao cấp Sanest.
Việc chọn mức dung tích cho sản phẩm lon nước yến Sanest cũng được cân nhắc kỹ lưỡng, mức dung tích được chọn là 190 ml/lon vừa có tính khác biệt so với đa số các sản phẩm phổ biến trên thị trường (mức 240 ml/lon), vừa phù hợp với giá cả, và vừa đủ cho một lần sử dụng của người tiêu dùng. 
Công ty rất chú trọng công tác nghiên cứu và đa dạng hóa sản phẩm nhằm đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu mọi tầng lớp xã hội, từng đối tượng người tiêu dùng, với thiết kế bao bì và màu sắc đặc trưng, đảm bảo tính nguyên tắc sự ổn định thiết kế bao bì, có tính bền vững và có thể điều chỉnh theo thời gian nhưng không làm mất đi tính tổng thể và hình ảnh chung của hệ thống. Tác giả và nhóm đồng sự sử dụng màu sắc, hình ảnh chủ đạo, font chữ, bố cục chung dựa trên định vị tính cách thương hiệu, sự thấu hiểu của khách hàng: thương hiệu Sanest là thương hiệu của nhà sản xuất chuyên nghiệp, thương hiệu Sanest gắn liền với sản phẩm thật, sản phẩm chính hiệu.
Từ 01 sản phẩm được chuyển giao công nghệ đầu tiên trong phòng thí nghiệm, ông đã chỉ đạo Nhà máy sản xuất ổn định 04 loại sản phẩm: 
Nước yến Sanest lon 190 ml (MS 001) màu sắc vàng ánh kim mang đặc trưng của nước yến đóng lon, có tính bổ dưỡng dùng cho mọi đối tượng.
Nước yến Sanest cao cấp lọ 70 ml (MS 002) có giá trị bổ dưỡng cao được thiết kế rất đặc biệt với màu nhãn đỏ ấn tượng, tạo đẳng cấp cho sản phẩm. Cách thiết kế bao bì đi kèm  rất sang trọng đã gấy ấn tượng đặc biệt sâu sắc cho người tiêu dùng, tạo được sự tin tưởng cho khách hàng khi mua sản phẩm dùng cho đối tượng người già và những đối tượng suy yếu về sức khỏe cần được bồi bổ.
Sản phẩm nước yến Sanest ăn kiêng (MS 003) lon 190 ml sử dụng đường không năng lượng, với lon màu bạc, đặc trưng của sản phẩm và sản phẩm cao cấp lọ 70ml dành cho người ăn kiêng, không tạo năng lượng phù hợp với đối tượng người ăn kiêng, nhất là những người bị bệnh tiểu đường. Đây là một sáng kiến mang tính táo bạo và đột phá, góp phân nâng cao giá trị của thương hiệu nước yến sào Sanest Khánh Hoà vì hiện nay trên thị trường chỉ duy nhất thương hiệu Sanest có loại sản phẩm này, thể hiện sự quan tâm đến sức khoẻ người tiêu dùng.
Nước yến Sanest chai 180 ml (MS 004) mang màu xanh đặc trưng của biển đảo Khánh Hòa, có tính phổ thông, có giá cả phù hợp,  đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phù hợp mọi thành phần, nhất là các tầng lớp học sinh.
Xác định tầm quan trọng và ý nghĩa sống còn của việc bảo vệ thương hiệu, Ông đã quyết định nhanh chóng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá cho thương hiệu Sanest trong nước và các nước Đài Loan, Hong Kong, Trung Quốc theo Thỏa ước Madrid. Thông qua Công ty Sở hữu Công nghiệp Investip, Công ty đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp và bản quyền tác giả cho tất cả các đối tượng: Thương hiệu Sanest; Các hình thức thể hiện trên bao bì nước yến; Hình “biển – đảo – chim yến” đặc trưng; Các ảnh nghệ thuật cảnh đảo yến, khai thác yến; … Và đã được Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học Công nghệ và Cục Bản quyền tác giả văn học - nghệ thuật thuộc Bộ Văn hoá Thông tin cấp các Giấy Chứng nhận. Đồng thời cũng quyết định sử dụng tem chống hàng giả trên từng đơn vị sản phẩm. Từ đó đã tạo được cho người tiêu dùng sự tin tưởng tuyệt đối vào xuất xứ và chất lượng sản phẩm.
Từ ngày Nhà máy chính thức hoạt động vào tháng 12/2003 đến nay, trải qua những bước đi ban đầu đầy khó khăn vì sức cạnh tranh khốc liệt của thị trường nhưng với định hướng chiến lược SXKD đúng đắn và sự nỗ lực của tập thể CB CNLĐ toàn Công ty đến nay sản phẩm NGKCC yến sào đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường và được người tiêu dùng trên khắp mọi miền đất nước đón nhận. Sản phẩm nước yến sào Sanest đã đoạt được nhiều giải thưởng uy  tín do các cơ quan Ban ngành chức năng TW và người tiêu dùng bình chọn.
6. Sáng kiến xây dựng Trung tâm DVDL Sanest Tourist:
Tháng 8/2003, theo chủ trương và chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy và UBND Tỉnh  Khánh Hòa v/v thành lập thêm các đơn vị hoạt động du lịch  nhằm làm phong phú thêm các loại hình du lịch đặc sắc của Tỉnh, Ông đã thành lập Trung tâm Dịch vụ Du lịch  - Sanest Tourist trực thuộc Công ty, chuyên hoạt động trong lĩnh vực du lịch biển đảo.
Với đặc thù của Công ty là quản lý tất cả các đảo yến trong vùng biển Khánh Hoà, xác định đây là thế mạnh của Công ty nên khi triển khai thành lập Trung tâm DVDL Sanest Tourist sẽ mở ra một loại hình du lịch hoàn toàn mới lạ, độc đáo. Ý tưởng của Giám đốc Công ty khi sử dụng thương hiệu Sanest gắn với tên gọi Sanest Tourist đã củng cố niềm tin cho du khách về tính hấp dẫn và chất lượng cao của tour. Đến với du lịch đảo yến, du khách sẽ bị hấp dẫn với những thắng cảnh tuyệt đẹp của một vùng biển đảo bao la với nhiều ham muốn khám phá. Đây cũng là một tour du lịch mang tính văn hoá, tìm hiểu lịch sử một ngành nghề. Tour du lịch đảo yến ra đời góp phần thu hút du khách đến với thành phố Nha Trang -  Khánh Hoà và tăng thêm nguồn thu ngân sách cho Công ty và Tỉnh nhà. Trung tâm DVDL Sanest Tourist đã vinh dự được nhận Quả cầu vàng tại Tuần lễ Văn hoá Du lịch Thương mại 2004, khẳng định được chất lượng dịch vụ và thương hiệu Sanest.
7. Sáng kiến thành lập xưởng chế biến sơ dừa ép:
Để tận dụng nguyên liệu vỏ dừa, ông đã cùng CB công nhân lao động Công ty thành lập Xưởng chế biến xơ dừa ép từ vỏ dừa với công suất 1 tấn xơ/ ngày, tạo thêm sản phẩm mới, tăng doanh thu cho Công ty từ nguồn nguyên liệu trước đây không sử dụng tạo thêm việc làm cho người lao động. Đầu tư xây dựng Xưởng chế biến đã đạt hiệu quả đầu tư cao, lợi nhuận mang lại hàng trăm triệu đồng và tạo sản phẩm xuất khẩu từ nguồn phế liệu vỏ dừa. Ngoài ra còn có một số sáng kiến  cải tiến kỹ thuật và hợp lý hoá như:
Cải tiến, hợp lý hóa trong thiết kế và thi công công trình xây dựng nhà xưởng và lắp đặt công nghệ thiết bị Nhà máy NGKCC Yến sào đạt hiệu quả cao về tiến độ thi công và chất lượng kỹ thuật, mỹ thuật của công trình cũng như hiệu quả sản xuất.
8. Thực hiện dự án “Thực nghiệm nuôi chim yến trong nhà để lấy tổ”:
Đầu năm 2004, ông đã chỉ đạo các cộng sự nghiên cứu và trình bày dự án thực hiện “Bước đầu nghiên cứu ấp nuôi nhân tạo chim yến hàng Aerodramus Fuciphagus Amechanus làm cơ sở khoa học cho việc phát triển đàn yến trong nhà ở Khánh Hòa” và thực hiện dự án “Thực nghiệm nuôi chim yến trong nhà để lấy tổ”.
Được sự cho phép của UBND Tỉnh Khánh Hòa, ông đã thành lập Ban quản lý dự án thực nghiệm nuôi chim yến trong nhà với trách nhiệm quản lý, triển khai dự án thực nghiệm nuôi chim yến trong nhà để lấy tổ.  Dựa vào các kết quả nghiên cứu sinh học sinh sản chim yến hàng Việt Nam cũng như các thử nghiệm nuôi chim yến hang động mà công ty đã triển khai hơn mười năm qua.
Đến đây, có thể khẳng định rằng, dự án nuôi chim yến trong nhà dựa vào thực tiễn Việt Nam mà ông và các cộng sự thực hiện hơn hai năm qua đã thu được những thành công cơ bản và quan trọng. Trên cở sở đó, Trung tâm kỹ thuật nuôi chim yến trong nhà trực thuộc Công ty Yến sào Khánh Hòa hình thành.
Hiện nay, Trung tâm đã tiến hành chuyển giao kỹ thuật công nghệ nuôi chim yến để lấy tổ ở các tỉnh trong cả nước như: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Dương, Gò Công - Tiền Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Bạc Liêu, Kiên Giang, …Một số ngôi nhà yến đã bắt đầu thu hoạch tổ, quần đàn chim yến phát triển nhanh như ở Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Dương, Gò Công, Kiên Giang.
Trong quá trình hoàn chỉnh qui trình công nghệ nuôi chim yến trong nhà từ khâu ấp nở nhân tạo đến khâu nuôi chim con và chim làm tổ tại ngôi nhà yến. Trung tâm đã xây dựng được các công nghệ ấp nở nhân tạo chim yến, nuôi chim con qua từng giai đọan phát triển, công nghệ, kỹ thuật xây dựng ngôi nhà yến điển hình.
* Công nghệ:
- Công nghệ ấp nở nhân tạo chim yến (Mã số CNYS01)
- Công nghệ nuôi chim con qua từng giai đọan phát triển (Mã số CNYS02).
- Công nghệ, kỹ thuật xây dựng ngôi nhà yến điển hình (Mã số CNYS03)
* Thiết bị:
- Máy ấp trứng nhân tạo (Mã số TBYS 01).
- Máy nuôi chim yến (Mã số TBYS 02).
- Tổ yến mô phỏng (Mã số TBYS 03).
- Hộp đựng trứng chim yến (Mã số TBYS 04).
- Vật liệu gỗ làm giá tổ chim yến (Mã số TBYS 05).
- Âm thanh phức hợp dẫn dụ chim yến (Mã số TBYS 06).
- Dung dịch SL chim yến (Mã số TBYS 07).
- Hỗn hợp SP dẫn dụ chim yến (Mã số TBYS 08)
Song song với việc xây dựng công nghệ, ông đã cùng với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của Trung tâm tiến hành nghiên cứu, thiết kế, chế tạo một số thiết bị hỗ trợ nuôi chim yến trong nhà. Điều này nhằm chủ động cả công nghệ lẫn thiết bị của nghề nuôi chim yến trong nhà.
Thành công của đề tài sẽ phát triển nên một nghề mới, đem lại công ăn việc làm cho người dân, góp phần bảo vệ môi trường và tăng thêm nguồn lợi xuất khẩu cho đất nước.
Năm 2007, tại Hội thi sáng tạo Khoa học Kỹ thuật tỉnh Khánh Hòa năm 2006 – 2007 với sáng kiến “Quy trình công nghệ, kỹ thuật ấp nở nhân tạo và nuôi chim Yến Hàng qua từng giai đoạn phát triển” đạt giải nhất. Tham gia Hội thi Sáng tạo Khoa học Kỹ thuật toàn quốc lần thứ 9 (2006 – 2007) và đạt giải nhất. Được Hội Liên hiệp Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trao tặng theo quyết định số 1682/QĐ – LHH ngày 03 tháng 12 năm 2007.c

Bạn cần đăng nhập để xem được thông tin

Vốn điều lệ

383.533.000.000 VNĐ

Quy mô và Hoạt động SXKD/OPERATION

Tổng tài sản(Tỷ VND)

A10 (Dưới 100 tỷ) A9 (100 - 200 tỷ) A8 (200 - 400 tỷ) A7 (400 - 600 tỷ) A6 (600 - 800 tỷ)
A5 (800 - 1000 tỷ) A4 (1000 - 1500 tỷ) A3 (1500 - 2000 tỷ) A2 (2000 - 2500 tỷ) A1 (Trên 2500 tỷ)

Vốn chủ sơ hữu

E10 (Dưới 100 tỷ) E9 (100 - 200 tỷ) E8 (200 - 400 tỷ) E7 (400 - 600 tỷ) E6 (600 - 800 tỷ)
E5 (800 - 1000 tỷ) E4 (1000 - 1500 tỷ) E3 (1500 - 2000 tỷ) E2 (2000 - 2500 tỷ) E1 (Trên 2500 tỷ)

Doanh Thu (tỷ VNĐ)

R10 (Dưới 100 tỷ) R9 (100 - 200 tỷ) R8 (200 - 400 tỷ) R7 (400 - 600 tỷ) R6 (600 - 800 tỷ)
R5 (800 - 1000 tỷ) R4 (1000 - 1500 tỷ) R3 (1500 - 2000 tỷ) R2 (2000 - 2500 tỷ) R1 (Trên 2500 tỷ)

Số lượng nhân viên

L10 (Dưới 100 người) L9 (100 - 200 người) L8 (200 - 400 người) L7 (400 - 600 người) L6 (600 - 800 người)
L5 (800 - 1000 người) L4 (1000 - 1500 người) L3 (1500 - 2000 người) L2 (2000 - 2500 người) L1 (Trên 2500 người)

Vị thế của doanh nghiệp trong ngành

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

Bottom 25% 25%-m m-25% Top 25%

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

Bottom 25% 25%-m m-25% Top 25%
n = 27 m(ROA) = 1043 m(ROE) = 1812

TOP 5 doanh nghiệp cùng nghành - Sản xuất, kinh doanh thực phẩm chế biến

Gửi tin nhắn phản hồi đến doanh nghiệp

cho phép upload : .xlsx;.xls;.doc;.docx;.pdf;.jpg;.gif;.png