Harvard Law School: Đằng sau sự sụt giảm số lượng công ty đại chúng tại Mỹ (P1)

30/08/2021

Chuyên mục:

Tại các thị trường kinh tế lớn như Mỹ và EU, số lượng công ty đại chúng đã và đang giảm rõ rệt trong vài thập kỷ vừa qua. Liệu các nền kinh tế mới nổi có nên lo sợ tương lai này? Nghiên cứu của Diễn đàn Trường Luật Harvard về Quản trị Doanh nghiệp sẽ góp phần làm sáng tỏ nguyên nhân đằng sau xu hướng này.

 

 

Xu hướng thị trường đại chúng: Các công ty Mỹ lớn hơn, ổn định hơn

Thị trường niêm yết của Mỹ đã giảm sau bong bóng dot-com, nhưng thị trường phần lớn đã ổn định và các công ty đại chúng của Mỹ ngày nay lớn hơn nhiều so với trước đây.

Trong thời kỳ đỉnh cao dot-com năm 1996, các công ty niêm yết của Mỹ đạt mức cao kỷ lục với hơn 8.000 công ty thành lập trong nước niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Mỹ với giá trị vốn hóa thị trường trung bình là 1,8 tỷ đô la tính theo đô la ngày nay. Số lượng các công ty đại chúng trong nước được niêm yết tại Mỹ giảm mạnh trong năm 2003, với gần 2.800 công ty bị mất do hoạt động mua bán và sáp nhập. Đến năm 2003, có 5.295 công ty trong nước được niêm yết tại Mỹ. Khoản lỗ của các công ty niêm yết trong nước tại Mỹ trong giai đoạn 1996-2003 chiếm 74% mức lỗ từ năm 1996 đến nay. (Xem hình 1 và 2).

Hình 1: Sự thay đổi về số lượng các công ty đại chúng của Hoa Kỳ

HBR1

Nguồn: HLS; WB

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, tổng số công ty niêm yết trong nước của Mỹ phần lớn đã ổn định trở lại, dao động trong khoảng 4.100 đến 4.400. Trong cùng thời gian này, các công ty nước ngoài niêm yết trên các sàn giao dịch của Mỹ đã tăng đều đặn về số lượng. (Xem hình 2.)

Hình 2: Các công ty đại chúng trong nước và nước ngoài của Hoa Kỳ

Nguồn: HLS; Liên đoàn Sở giao dịch Thế giới

Các công ty đại chúng cũng đã phát triển về quy mô. Một công ty niêm yết trong nước điển hình ngày nay có giá trị vốn hóa thị trường cao hơn so với những năm 1990, một xu hướng đã tăng nhanh trong những năm gần đây (Xem hình 1.) Tính đến đầu năm 2017, giá trị vốn hóa thị trường trung bình của một công ty niêm yết tại Mỹ là 7,3 tỷ USD, và mức trung bình là 832 triệu đô la. Ngoài ra, 1% công ty đại chúng lớn nhất của Mỹ chiếm 29% tổng vốn hóa thị trường. Khoảng 140 công ty hiện mỗi công ty vượt quá 50 tỷ đô la giá trị thị trường, chiếm hơn một nửa tổng vốn hóa thị trường của Mỹ.

“Khoảng cách niêm yết Mỹ”, một nghiên cứu học thuật vào tháng 6 năm 2016 sử dụng dữ liệu niêm yết từ các sàn giao dịch lớn từ năm 1975 đến năm 2012, đã nêu bật một số xu hướng hủy niêm yết bắt đầu từ những năm 1990 do bong bóng dot-com. Bảng 4, phần A của nghiên cứu tiết lộ rằng sau đỉnh điểm dot-com, 2.101 công ty bị “hủy niêm yết có lý do” trong bảy năm tiếp theo (1997–2003), không thể đáp ứng các tiêu chuẩn niêm yết của sàn giao dịch của họ; trung bình 300 công ty một năm. Từ năm 2003 đến năm 2012, các vụ đình chỉ vì lý do đã giảm xuống dưới 100 vụ mỗi năm. —Doidge C., Karolyi G.A. và Stulz RM. The U.S. Listing Gap.

Xu hướng IPO: Hướng về bức tranh toàn cảnh

Các đợt IPO của Mỹ đã giảm so với mức đỉnh điểm vào những năm 1990, nhưng các công ty tiến hành IPO ở Mỹ ngày nay đang huy động được nhiều tiền hơn bao giờ hết và ngày càng nhiều công ty nước ngoài thực hiện niêm yết xuyên biên giới chọn niêm yết ở Mỹ, so với bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.

Các đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng của các công ty nổi tiếng thường thu hút được sự chú ý mạnh mẽ của công chúng, nhưng IPO chỉ là một trong nhiều lựa chọn để các công ty mới nổi thu hút nhà đầu tư. Trong khi hoạt động IPO đã tăng lên sau cuộc suy thoái năm 2008, số lượng các đợt phát hành cổ phiếu ra công chúng vẫn thấp hơn nhiều so với mức giữa những năm 1990. Trong số các yếu tố khác, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường đầu tư tư nhân và các phương thức tài trợ thay thế đã kéo dài giai đoạn tài trợ tư nhân trong vòng đời doanh nghiệp.

Năm 2014, số lượng IPO của Mỹ đã tăng lên 291 (xem hình 3), mức cao nhất kể từ năm 2000, trong khi tổng số vốn huy động được thông qua các đợt IPO đạt kỷ lục 96 tỷ USD. Tuy nhiên, năm 2015 và 2016 là những năm thất bại đối với thị trường IPO. Trong năm 2016, chỉ có 112 thương vụ IPO hoàn thành, thu về tổng cộng 21 tỷ USD.

Hình 3: Thị trường IPO của Hoa Kỳ 1991–2016

Nguồn: HLS; Phân tích Dealogic và EY

Tại sao sự sụt giảm trong các đợt IPO của Mỹ trong năm 2016? Các nhà phân tích thị trường chỉ ra một số yếu tố góp phần, bao gồm sự điều chỉnh thị trường vào đầu năm 2016 (tức là sự biến động thị trường chứng khoán gia tăng) xuất phát từ việc định giá thị trường cao trong lịch sử và sự không chắc chắn liên quan đến cuộc bầu cử Mỹ, lãi suất và các vấn đề kinh tế vĩ mô toàn cầu. Ngoài ra, sự sẵn có của vốn tư nhân cho phép nhiều công ty lựa chọn nhiều hơn về thời điểm IPO của họ khi thị trường kém ổn định hơn.

(Còn tiếp)

 

Lược dịch và biên tập theo Harvard Law School

Nguồn: VNR500

  


Bình Luận (0)



Gửi bình luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *