Việt Nam đã kiểm soát COVID-19 và phục hồi nền kinh tế như thế nào

22/07/2020

Chuyên mục:

Việt Nam đã quản lý để kiểm soát COVID-19, dỡ bỏ các biện pháp cách ly xã hội và mở cửa lại nền kinh tế, cho phép các doanh nghiệp tiếp tục hoạt động. Trong khi các doanh nghiệp phải trải qua nhiều khó khăn, Chính phủ đã đưa ra các gói ưu đãi và hỗ trợ tài chính để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Chúng tôi xem xét bốn ngành công nghiệp dự kiến sẽ phục hồi mạnh mẽ sau COVID 19 dựa trên nền tảng thị trường của Việt Nam và sự phát triển của nền kinh tế.

Trong khi các doanh nghiệp đã mở cửa trở lại, Chính phủ Việt Nam vẫn nâng cao cảnh giác luôn sẵn sàng ứng phó với những thách thức do đại dịch gây ra.

Khi các trường học và doanh nghiệp mở cửa trở lại sau Ngày lễ thống nhất và Quốc tế Lao động, tình trạng tắc nghẽn giao thông ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng trở lại vào sáng thứ Hai vào đầu tuần làm việc. Khung cảnh hoàn toàn trái ngược với một số quốc gia trên toàn cầu đang bị giãn cách trong nỗ lực kiểm soát sự lây lan của COVID-19.

Việt Nam đã dỡ bỏ các biện pháp cách ly xã hội vào cuối ngày 22 tháng 4 nhưng vẫn tiếp tục có các biện pháp đề phòng bằng cách hạn chế việc tập hợp đông người và bắt buộc đeo khẩu trang. Việt Nam đã ghi nhận 271 trường hợp nhiễm COVID-19 tính đến ngày 5 tháng 5 trong đó chưa có trường hợp tử vong nào. Việt Nam đã quản lý để đạt được kỳ tích này bằng cách truy tìm những người có tiếp xúc, thử nghiệm, kiểm dịch hàng loạt, kịp thời và hiệu quả của các cơ quan nhà nước.

Việt Nam chiến đấu với đại dịch từ sớm

Việt Nam đã ghi nhận hai trường hợp nhiễm Covid 19 đầu tiên vào ngày 28 tháng 1 trên các chuyến bay từ Trung Quốc, sau đó họ đã tạm dừng tất cả các chuyến bay từ Trung Quốc đại lục vào ngày 1 tháng 2, sau đó là tất cả các chuyến bay quốc tế vào ngày 25 tháng 3. Việt Nam cũng ngừng cấp thị thực và đón khách du lịch quốc tể để ngăn chặn đại dịch. Tất cả điều này dường như đã được đền đáp, khi Việt Nam học hỏi và rút ra kinh nghiệm trong việc đối phó với virus SARS năm 2003.

Với các quốc gia khác bao gồm Singapore và Malaysia đã ghi nhận hàng ngàn các ca nhiễm mới và tiếp tục các biện pháp đóng cửa khác nhau, Việt Nam đã làm rất tốt để vượt qua khó khăn so với các quốc gia khác.

Nền kinh tế Việt Nam vẫn có những điểm sáng mặc dù ảnh hưởng tiêu cực từ COVID-19

Tuy nhiên, giống như các quốc gia khác chịu ảnh hưởng từ COVID-19, nền kinh tế Việt Nam cũng bị ảnh hưởng đáng kể trong quá trình dịch bùng phát. GDP đã giảm xuống 3,8% trong quý đầu tiên của năm 2020, so với 6,8% cùng kỳ năm 2019 dựa theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO). Trong ba tháng đầu năm, gần 35.000 doanh nghiệp bị phá sản - lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, số lượng công ty đóng cửa cao hơn các doanh nghiệp mới đăng ký. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng đã dự báo rằng nền kinh tế sẽ chỉ mở rộng thêm 2,7% trong năm nay.

Tuy nhiên, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã dự báo Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ở Đông Nam Á bất chấp tác động của COVID-19. Trong báo cáo Triển vọng phát triển châu Á năm 2020, nền kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ quay trở lại mức 6,8% vào năm 2021, miễn là khống chế được dịch bệnh.

Để giúp phục hồi nền kinh tế, Chính phủ đã đưa ra gói hỗ trợ tín dụng trị giá 10,8 tỷ USD, giảm lãi suất, tạm hoãn việc nộp thuế và phí sử dụng đất cho một số ngành nghề kinh doanh. Chính phủ cũng tiếp tục hỗ trợ tài chính cho người sử dụng lao động và người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch.

Ngân hàng Thế giới tin rằng nền kinh tế Việt Nam vẫn còn những điểm tích cực và trong báo cáo có tiêu đề Đông Á và Thái Bình Dương trong thời điểm COVID-19 nhắc lại rằng Việt Nam được hưởng lợi từ nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) với điều kiện thị trường lao động thuận lợi.

Trong bối cảnh này, các ngành công nghiệp quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ giúp cho sự phục hồi trở lại mạnh mẽ của nền kinh tế.

Du lịch

Ngành du lịch Việt Nam đã bị ảnh hưởng đáng kể bởi đại dịch. Saigontourist - một công ty du lịch đã báo cáo giảm 80% số lượng khách hàng trong tháng 2 và 90% trong tháng 3 dẫn đến doanh thu hàng tháng giảm 21,1 triệu USD. Với thực tế không có khách quốc tế kể từ ngày 25 tháng 3, du lịch và các doanh nghiệp liên quan đã chịu tổn thất đáng kể.

Tuy nhiên, trong khi tình hình khó khăn chưa từng có, ngành du lịch dự kiến ​​sẽ phục hồi nhanh hơn và mạnh hơn. Chẳng hạn, trong kỳ nghỉ lễ cuối tuần của Việt Nam từ ngày 30 tháng 4 đến ngày 3 tháng 5, du lịch nội địa đến các khu vực như Đà Lạt, Vũng Tàu và Mũi Né tăng lên với tính hình tắc nghẽn giao thông trên những con đường dẫn ra khỏi Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Công suất cho thuê khách sạn cũng tăng hơn và một số nhà khai thác vận tải cũng bị phạt vì không duy trì các hướng dẫn dãn cách xã hội bên trong xe khách. Savills Việt Nam đã lưu ý rằng ngành du lịch sẽ phục hồi hoàn toàn trong vòng sáu tháng sau khi đại dịch được ngăn chặn.

Ngoài ra, Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào lượng khách du lịch Trung Quốc và Hàn Quốc, chiếm 56% lượng khách quốc tế vào năm 2019. Điều này cũng mang đến một cơ hội, vì Trung Quốc và Hàn Quốc hầu như đã khống chế được dịch bệnh. Khi các chuyến bay quốc tế nối lại, có khả năng các chuyến bay quốc tế từ các quốc gia này sẽ bắt đầu, giúp du lịch phục hồi. Nếu Việt Nam thành công trong cuộc chiến chống lại COVID-19 và được xem là một quốc gia an toàn cho du lịch, số lượng khách du lịch có thể sẽ tăng thêm. Sự phục hồi của ngành công nghiệp dường như đang đi đúng hướng với các nhà hàng và quán cà phê mở cửa và phục vụ khách hàng trong kỳ nghỉ cuối tuần.

Dịch vụ kỹ thuật số và thương mại điện tử

Đại dịch đang thúc đẩy chuyển đổi kỹ thuật số tại Việt Nam. Các ngân hàng đã cắt giảm phí giao dịch trực tuyến để khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt, trong khi nhu cầu cho dịch vụ giao hàng thực phẩm và giao hàng thực phẩm tăng vọt. Các nhà bán lẻ tại Việt Nam báo cáo rằng đơn đặt hàng qua điện thoại và ứng dụng tăng gấp 10 lần so với ngày thường. Điều này cho phép các nhà bán lẻ thuê thêm nhân viên giao hàng để đáp ứng nhu cầu. Mua sắm trực tuyến cũng đảm bảo rằng trong khi lượng tiêu thụ giảm, sẽ luôn có nhu cầu về sản phẩm, cho phép doanh nghiệp hoạt động.

Ngoài ra, với việc các trường học bị đóng cửa kể từ kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, các trường học và trường đại học buộc phải sử dụng các công cụ và lớp học trực tuyến. Điều này làm tăng nhu cầu về phần cứng như máy tính xách tay, máy tính bảng và các dịch vụ phần mềm như Zoom. Các chuyên gia dự báo rằng các khóa học phân phối trực tuyến sẽ vẫn phổ biến ngay cả sau đại dịch như thái độ đối với học trực tuyến. Ngành thương mại điện tử Việt Nam vẫn đang phát triển nhưng cơ hội do đại dịch đã đẩy nhanh sự thay đổi này.

Chuỗi sản xuất và cung ứng

Đại dịch đã buộc 15% các công ty sản xuất phải cắt giảm sản xuất, trong đó các ngành dệt may bị ảnh hưởng nặng nề nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến 2,8 triệu công nhân. Các nhà khai thác sản xuất phàn nàn về việc thiếu nguyên liệu cho sản xuất. Các nhà sản xuất ô tô như Toyota, Honda, Hyundai, Ford và Nissan cũng tạm thời ngừng sản xuất do thiếu phụ tùng và nhu cầu. Samsung thậm chí đã cắt giảm sản xuất phụ tùng và linh kiện vì những hạn chế về biên giới trong đại dịch.

Tuy nhiên, điều này cũng sẽ cho phép các công ty cân nhắc lại về chuỗi sản xuất và cung ứng của họ. Các công ty sẽ phải đa dạng hóa nguồn cung đầu vào của họ và xem xét các ngành nghề kinh doanh mới. Ví dụ, một số nhà máy may đã tái tổ chức kinh doanh để sản xuất khẩu trang. Để hỗ trợ điều này, chính phủ cũng đã gỡ bỏ các hạn chế đối với việc xuất khẩu sản phẩm. Việt Nam cũng đã chuyển sang vận chuyển thiết bị bảo vệ cá nhân và thiết bị thử nghiệm tới một số quốc gia bị ảnh hưởng bởi đại dịch.

Tuy nhiên, khi Trung Quốc đã kiểm soát được đại dịch, các dây chuyền cung cấp có khả năng nối lại, cho phép nhiều nguyên liệu thô cần thiết cho sản xuất. Điều này sẽ cung cấp cho các doanh nghiệp một bước đệm khi họ tìm cách sắp xếp lại chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam đã xem xét nguồn cung về nguyên liệu đầu vào từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ. Ngoài ra, các quốc gia như Nhật Bản đã công bố chương trình trợ cấp trị giá 220 triệu USD để khuyến khích các nhà sản xuất đa dạng hóa cơ sở sản xuất của mình sang các quốc gia Đông Nam Á, điều này sẽ giúp tiếp tục phục hồi ngành công nghiệp tại Việt Nam.

Hàng không

Các hãng hàng không Việt Nam đã báo cáo thiệt hại ban đầu do đại dịch được ước tính là 1,3 tỷ USD. Khoảng 10.000 nhân viên của Vietnam Airlines đã phải nghỉ phép không lương hoặc tương đương khoảng 50% nhân viên. Trong khi các biện pháp giãn cách xã hội được áp dụng, các hãng hàng không khai thác tối thiểu các chuyến bay theo hướng dẫn của cơ quan chức năng. Bộ Giao thông vận tải đã đề xuất cắt giảm một số loại thuế và phí cho ngành hàng không bao gồm giảm phí hạ cánh và cất cánh và nhiên liệu máy bay.

Tuy nhiên, một khi các biện pháp giãn cách xã hội được dỡ bỏ, số lượng chuyến bay đến/đi từ Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tăng lên 26 so với 1 chuyến trước đó, và các hãng hàng không cũng bắt đầu tăng dần tần suất các chuyến bay nội địa. Ngoài ra, các hãng hàng không như Vietnam Airlines và Vietjet đã phục vụ các chuyến bay hồi hương đặc biệt. Điều này có thể sẽ tiếp tục khi nhiều người Việt bị mắc kẹt ở các quốc gia khác tìm cách quay trở lại Việt Nam.

Mặc dù có thể mất một thời gian, sự tăng trưởng của ngành hàng không sẽ được liên kết với du lịch nội địa và kinh doanh du lịch. Tuy nhiên, các dấu hiệu đều cho thấy tương lai đầy hứa hẹn. Thị trường hàng không Việt Nam là một trong những thị trường hàng không tăng trưởng nhanh nhất thế giới với các sân bay công suất lớn. Chính phủ biết rằng sự tăng trưởng dài hạn của ngành là bền vững và đã tiếp tục phát triển các dự án sân bay như Sân bay Long Thành, sẽ thay thế sân bay hiện tại ở Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2025.

Lược dịch và biên tập từ Vietnam Briefing

 

Vietnam Report

  


Bình Luận (0)



Gửi bình luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *